// //]]> Thảm kịch Mount Maunganui: Sạt lở đất – hiểm họa thiên nhiên chết người nhất ở New Zealand

Breaking

Thảm kịch Mount Maunganui: Sạt lở đất – hiểm họa thiên nhiên chết người nhất ở New Zealand

Những sự kiện thương tâm xảy ra tại vùng Bay of Plenty trong tuần này là lời nhắc nhở rõ ràng rằng sạt lở đất vẫn là hiểm họa thiên nhiên gây chết người nhiều nhất trong số các rủi ro mà New Zealand đang phải đối mặt.

Một vụ sạt lở đất tại Khu nghỉ dưỡng Beachside Holiday Park ở Mount Maunganui đã kích hoạt chiến dịch cứu hộ quy mô lớnMột vụ sạt lở đất tại Khu nghỉ dưỡng Beachside Holiday Park ở Mount Maunganui đã kích hoạt chiến dịch cứu hộ quy mô lớn. Ảnh: Jason Dorday

Hiểm họa tích tụ dưới những cơn mưa kỷ lục

Sáng thứ Năm, một vụ sạt lở lớn đã quét qua Khu cắm trại Beachside Holiday Park ở chân núi Mauao, kích hoạt chiến dịch cứu hộ và tìm kiếm kéo dài đến hết cuối tuần.

Chỉ vài giờ trước đó, hai người đã thiệt mạng khi một vụ sạt lở khác xảy ra tại một ngôi nhà ở khu Welcome Bay, ngoại ô Tauranga. Tính đến tối thứ Sáu, vẫn còn sáu người mất tích tại Mount Maunganui.

Các sự kiện này diễn ra vào giai đoạn cuối của chu kỳ La Niña yếu, hiện tượng thường mang lại điều kiện thời tiết ẩm ướt hơn cho miền bắc New Zealand. Đồng thời, nhiệt độ bề mặt biển cao bất thường đã làm gia tăng lượng hơi ẩm trong khí quyển, góp phần gây ra những trận mưa lớn hơn.

Tại một số khu vực phía bắc New Zealand, lượng mưa vượt quá 200mm chỉ trong vòng 24 giờ trước thảm họa tuần trước – cao hơn nhiều so với ngưỡng thông thường được biết là có thể kích hoạt sạt lở đất.

Các khu vực như Bay of Plenty, Coromandel, Northland và Tairāwhiti đặc biệt dễ tổn thương trước những trận mưa lớn, do nước mưa làm suy yếu lớp đất bề mặt và các lớp đá bị phong hóa mạnh bên dưới, khiến các vụ sạt lở nông dễ bong trượt và đổ xuống sườn dốc.

Mount Maunganui: Khu cắm trại nằm trên dấu tích sạt lở cổ

Bản đồ địa hình độ phân giải cao của Mauao và khu vực xung quanh Mount Maunganui, được xây dựng từ dữ liệu của Land Information New Zealand, cho thấy các dấu vết sạt lở. Hai vụ sạt lở cổ đại, còn gọi là “sạt lở cổ” phía trên khu cắm trại được ký hiệu là L1 và L2Bản đồ địa hình độ phân giải cao của Mauao và khu vực xung quanh Mount Maunganui, được xây dựng từ dữ liệu của Land Information New Zealand, cho thấy các dấu vết sạt lở. Hai vụ sạt lở cổ đại, còn gọi là “sạt lở cổ” phía trên khu cắm trại được ký hiệu là L1 và L2. Ảnh: Được cung cấp / CC BY-NC-ND

Phần lớn các vụ sạt lở đất tại New Zealand được kích hoạt bởi mưa lớn, thông qua sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nội tại – như độ dốc, độ bền của đất và đá, thảm thực vật – và các yếu tố bên ngoài, bao gồm cường độ mưa cũng như độ ẩm tích tụ trong đất từ các đợt mưa trước đó.

Nhiều rủi ro trong số này là vô hình, âm thầm tích tụ dưới bề mặt cho đến khi xảy ra sự sụp đổ đột ngột.

Dấu vết địa chất cho thấy nguy cơ đã tồn tại từ lâu

Điều này phần nào lý giải vì sao sạt lở đất từ lâu đã là mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng. Kể từ khi có ghi chép lịch sử vào năm 1843, sạt lở đất đã gây ra nhiều ca tử vong hơn cả động đất và phun trào núi lửa cộng lại.

Phần lớn địa hình dốc và còn non trẻ về mặt địa chất của New Zealand mang đầy dấu vết của hàng triệu vụ sạt lở trong quá khứ, chủ yếu xảy ra ở đồng cỏ và các khu vực hẻo lánh, xa khu dân cư.

Tại Mount Maunganui, chính hình dạng địa hình đã kể lại câu chuyện của nó. Các sườn đồi xung quanh chi chít những vết tích của các vụ sạt lở trước đây, cho thấy cảnh quan đã nhiều lần bị tái định hình bởi các quá trình sụp trượt theo thời gian.

hinh-anh-nay-cung-cap-hai-goc-nhin-ve-cac-suon-doc-phia-tren-khu-cam-trai-tai-mount-maunganuiHình ảnh này cung cấp hai góc nhìn về các sườn dốc phía trên khu cắm trại tại Mount Maunganui. Bên trái (A) là ảnh chụp trên không năm 2023 cho thấy sườn đồi dốc và vị trí các điểm khảo sát nền đất trước đây. Bên phải (B) là bản đồ địa hình chi tiết, hé lộ hai vụ sạt lở cổ đại (L1 và L2) ẩn trong cảnh quan. Ngôi sao đánh dấu vị trí ước tính nơi khởi phát vụ sạt lở ngày 22/1. Ảnh: Được cung cấp / CC BY-NC-ND

Các công nghệ lập bản đồ độ phân giải cao mới hiện nay cho phép các nhà khoa học quan sát điều này với mức độ chi tiết chưa từng có. Mô hình địa hình số (DEM) từ dữ liệu LiDAR năm 2024, vốn loại bỏ thảm thực vật để lộ bề mặt đất trần, cho thấy nhiều dấu hiệu sạt lở rải rác trên các sườn dốc.

Nhiều dấu vết tập trung dọc theo các vách đá ven biển, nhưng đặc biệt có hai vụ sạt lở cổ quy mô lớn nằm ngay phía trên khu nghỉ dưỡng.

Những vụ sạt lở cũ này để lại các vách trượt đầu nguồn rõ nét – những vết đứt gãy dốc, hình lưỡi liềm trên sườn đồi – cho thấy nơi từng có khối lượng lớn vật liệu tách ra và tràn xuống khu đất bằng phía dưới.

Các bằng chứng dưới bề mặt càng củng cố nhận định này. Một cuộc khảo sát địa kỹ thuật được thực hiện vào năm 2000, gần khu vực phía bắc của nhà vệ sinh trong khu cắm trại, đã phát hiện một lớp colluvium dày 0,7m – vật liệu rời do sạt lở và xói mòn trước đây để lại – bị chôn vùi dưới bề mặt.

Nói cách khác, chính khu vực này đang nằm trên tàn tích của các vụ sụp trượt trong quá khứ.

Vụ sạt lở ngày 22/1 dường như bắt nguồn từ dải đất hẹp nằm giữa hai vết sạt lở cũ. Đây là vị trí đặc biệt dễ tổn thương: khi các vụ sạt lở lân cận xảy ra, phần đất còn lại ở giữa có thể mất đi sự nâng đỡ bên, trở nên mất ổn định, giống như một mũi đất đá nhô ra từ vách núi.

Mưa lớn và nhiệt độ biển cao đã góp phần gây ra các vụ sạt lở, làm nổi bật mức độ dễ tổn thương của khu vựcMưa lớn và nhiệt độ biển cao đã góp phần gây ra các vụ sạt lở, làm nổi bật mức độ dễ tổn thương của khu vực. Ảnh: Jason Dorday

Vì sao sạt lở khó dự đoán nhưng đặc biệt nguy hiểm?

Trong thang thời gian địa chất dài, kiểu sụp trượt tiến triển như vậy là một phần bình thường của quá trình tiến hóa cảnh quan. Tuy nhiên, khi nó diễn ra tại các khu vực đông dân cư, một quá trình địa chất cổ xưa có thể nhanh chóng trở thành thảm họa nhân sinh.

Việc dự đoán quãng đường một vụ sạt lở có thể di chuyển và những khu vực có nguy cơ bị vùi lấp là cực kỳ quan trọng, song đây vẫn là một lĩnh vực khoa học chưa thể đạt độ chính xác tuyệt đối.

Ở mức đơn giản nhất, các nhà khoa học có thể sử dụng những quy tắc ước tính sơ bộ để dự đoán tầm trượt của sạt lở dựa trên chiều cao và độ dốc của sườn đồi. Các phương pháp phức tạp hơn sử dụng mô hình máy tính tiên tiến, chẳng hạn như mô phỏng chuyển động khối lượng nhanh, nhằm tái hiện cách vật liệu sạt lở có thể di chuyển trên địa hình.

Những mô hình này từng được sử dụng để đánh giá nguy cơ sạt lở tại Muriwai, Auckland sau cơn bão Cyclone Gabrielle.

Bản đồ nguy cơ sạt lở – bước đi cần thiết để cứu người

Bằng cách điều chỉnh các yếu tố đầu vào như cường độ mưa và đặc tính đất, các nhà khoa học có thể xây dựng nhiều kịch bản khác nhau, ước tính phạm vi lan truyền của sạt lở trong tương lai, độ dày của lớp bùn đất và những tài sản có thể bị ảnh hưởng.

Kết quả sau đó được chuyển thành các bản đồ nguy cơ sạt lở, thể hiện những khu vực có mức độ rủi ro cao hoặc thấp dưới các điều kiện mưa khác nhau. Đây không phải là dự báo chính xác điều gì sẽ xảy ra, nhưng chúng cung cấp cơ sở quan trọng cho công tác quy hoạch sử dụng đất, quản lý khẩn cấp và nâng cao nhận thức cộng đồng.

New Zealand đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc lập bản đồ vùng ngập lụt, và hiện hầu hết các hội đồng địa phương đều công bố bản đồ nguy cơ lũ lụt cho người dân tiếp cận, qua đó tác động đến quy định xây dựng và giúp cộng đồng hiểu rõ mức độ rủi ro của mình.

Trong tương lai, việc phát triển các bản đồ nguy cơ sạt lở chi tiết và phổ biến rộng rãi tương tự sẽ là bước đi hợp lý – và có thể cứu sống nhiều sinh mạng.

Theo nzherald.co.nz – Anna Nguyen


Previous Post
Previous Post Next Post

Du lịch

Rao vặt New Zealand

Thông tin Rao Vặt Người Việt tại New Zealand.

Tạo tài khoản ngay