Góc nhìn - Tỷ lệ phổ biến cao của hội chứng Covid kéo dài (long Covid) có lẽ là lời nhắc nhở rõ ràng nhất rằng đại dịch vẫn chưa hề kết thúc.
Khảo sát Sức khỏe New Zealand mới nhất xác nhận rằng các tác động của đại dịch Covid vẫn tiếp diễn, sáu năm sau đợt bùng phát đầu tiên. Dữ liệu cho thấy hầu hết người dân New Zealand (77,7% hay khoảng 3,3 triệu người) đã từng mắc Covid ít nhất một lần.
Nhiều người báo cáo sức khỏe thay đổi sau khi mắc Covid, nhưng khoảng 1/11 người trưởng thành (401.000 người) mô tả các triệu chứng kéo dài từ ba tháng trở lên. Đây là những tác động sức khỏe mà họ chưa từng gặp phải trước khi nhiễm Covid và không thể giải thích bằng một chẩn đoán bệnh lý khác.
Phụ nữ có khả năng báo cáo các triệu chứng Covid kéo dài cao hơn - khoảng 1/7 phụ nữ (14,9%) so với 1/12 nam giới (8,5%). Chỉ ở những người trên 65 tuổi, tỷ lệ này mới tương đồng giữa nữ giới và nam giới.
Cứ sáu người trưởng thành người Māori thì có một người (15,5%) báo cáo có các triệu chứng Covid kéo dài, so với tỷ lệ 1/9 ở người trưởng thành không phải Māori (11,3%); và trong số những người khuyết tật, cứ bốn người thì có một người (22,8%) gặp phải các triệu chứng kéo dài.
Nhìn chung, 11,9% người trưởng thành nhiễm Covid đã phát triển thành Covid kéo dài sau giai đoạn cấp tính, và gần một nửa trong số đó (48,5%) vẫn đang gặp phải các triệu chứng tại thời điểm họ hoàn thành khảo sát.
New Zealand phải nhìn nhận Covid kéo dài một cách nghiêm túc. Việc phủ nhận những tác động này và trì hoãn cung cấp dịch vụ chăm sóc phù hợp đồng nghĩa với việc New Zealand đang bỏ lỡ các cơ hội để hạn chế tổn hại cho cá nhân và xã hội.
Các kết quả mới nhất này được củng cố bởi bằng chứng từ các nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu khảo sát sức khỏe trước đó, vốn cho thấy 1/5 trẻ em tại New Zealand báo cáo các triệu chứng dai dẳng sau khi nhiễm Covid.
Các khảo sát tự báo cáo có thể đếm thiếu hoặc đếm thừa tỷ lệ phổ biến, nhưng khảo sát sức khỏe New Zealand được thiết kế để mang tính đại diện. Đây hiện là ước tính tốt nhất của chúng ta về tình trạng Covid kéo dài ở người trưởng thành tại New Zealand, nhưng có lẽ vẫn là một con số thấp hơn thực tế vì nguy cơ mắc Covid kéo dài tăng lên sau mỗi lần tái nhiễm.
Kể từ khi cuộc khảo sát hoàn tất, đã có thêm rất nhiều ca mắc Covid và New Zealand hiện đang trải qua làn sóng thứ chín, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta có thể dự đoán sẽ có thêm nhiều ca mắc Covid kéo dài.
Covid kéo dài có thể ảnh hưởng đến mọi cơ quan, bao gồm hệ tim mạch, hệ miễn dịch và hệ thần kinh.
Các triệu chứng chính bao gồm rối loạn nhận thức (sương mù não), mệt mỏi và kiệt sức sau khi gắng sức. Nhưng nhiễm Covid cũng có thể gây ra bệnh mãn tính mà không có triệu chứng, với những tổn thương tế bào và/hoặc cơ quan "thầm lặng" có thể khiến con người dễ mắc bệnh hơn về sau.
Các phát hiện của khảo sát này rất đáng lo ngại. Định nghĩa được chấp nhận về một căn bệnh hiếm gặp là có một ca bệnh trên 2000 người. Nếu một tình trạng phổ biến hơn mức đó, số lượng người bị ảnh hưởng sẽ trở nên đủ cao để cần các dịch vụ y tế chuyên biệt.
Tỷ lệ phổ biến của Covid kéo dài chiếm 9,2% tổng số người trưởng thành ở New Zealand, cao hơn gấp một trăm lần so với ngưỡng bệnh hiếm gặp này.
Các hàm ý thực tiễn đã rõ ràng. Covid kéo dài là một gánh nặng y tế cần phải được giải quyết bằng các nguồn lực dịch vụ y tế chuyên biệt.
Cái giá của sự chậm trễ hành động
Cách đây hơn 12 tháng, chúng tôi đã công bố một bản phân tích mở rộng về tình trạng Covid kéo dài tại Aotearoa New Zealand. Chúng tôi lưu ý rằng nó vẫn là một rủi ro sau bất kỳ đợt nhiễm hoặc tái nhiễm Covid nào, đồng thời mang theo nguy cơ đột tử và tổn thương cơ quan tăng đáng kể.
Chúng tôi cũng lưu ý rằng việc tiêm chủng giúp giảm thiểu rủi ro này.
Chúng tôi đã thúc giục chính phủ thiết lập một phản ứng phối hợp bao gồm các dịch vụ điều trị và hỗ trợ, các biện pháp y tế công cộng và xã hội để bảo vệ cộng đồng, một chương trình tối đa hóa độ bao phủ vắc-xin, một chiến dịch thông tin rõ ràng, giám sát có mục tiêu – và nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Rất ít biện pháp được thiết lập. Sự thờ ơ này thậm chí còn mở rộng đến cả dữ liệu mà chính chính phủ đã thu thập. Việc thu thập dữ liệu cho khảo sát sức khỏe mới nhất này đã hoàn thành vào năm 2025, và thật đáng lo ngại khi những phát hiện này chỉ mới được công bố hiện nay, và chỉ sau khi có yêu cầu theo Đạo luật Thông tin Chính thống.
Những dữ liệu này cũng chủ yếu được công bố rộng rãi bởi nhóm điều phối Hành động Covid Aotearoa, chứ không phải bởi Cơ quan Y tế New Zealand (Health New Zealand).
Sự trì trệ đối với các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp đang khiến chúng ta phải trả giá đắt, cả về sức khỏe con người lẫn tổn thất năng suất lao động. Covid kéo dài hiện vẫn rất khó điều trị nhưng một số phương pháp tiếp cận mới đã cho thấy triển vọng. Có nhiều việc có thể làm để ngăn ngừa các ca mắc mới và hỗ trợ những người đã bị ảnh hưởng.
Làm chậm sự lây lan của Covid trong cộng đồng là một mục tiêu quan trọng và khả thi. Một trong những biện pháp cơ bản nhưng hiệu quả nhất là thúc đẩy văn hóa ở nhà khi bị ốm.
Cung cấp tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà tốt tại các địa điểm công cộng thông qua việc kết hợp thông gió, lọc không khí và đèn cực tím chuyên dụng là điều hoàn toàn có thể đạt được và mang lại nhiều lợi ích trong việc giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy vắc-xin Covid vẫn có khả năng mang lại sự giảm thiểu đáng kể về mức độ nghiêm trọng của đợt nhiễm cấp tính và nguy cơ mắc Covid kéo dài.
Song song với việc phòng ngừa là nhu cầu hỗ trợ những người đã bị ảnh hưởng bằng cách thiết lập và duy trì dịch vụ chăm sóc chuyên biệt được thiết kế riêng để quản lý triệu chứng và các lưới an sinh tài chính cho những người không thể làm việc.
Các nhà hoạch định chính sách và công chúng đang miễn cưỡng khi nói về Covid ở thì hiện tại, nhưng bằng chứng cho thấy đây vẫn là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng tại Aotearoa New Zealand, với những tác động tiêu cực trên diện rộng.
Hiện đã có một nhóm hỗ trợ lẫn nhau dành cho những người mắc Covid kéo dài, nhưng chính phủ có thể và nên làm nhiều hơn nữa để bảo vệ người dân và hạn chế những tổn hại về kinh tế và xã hội này.
John Donne Potter, Giáo sư Y tế Công cộng, Đại học Massey; Amanda Kvalsvig, Phó Giáo sư Nghiên cứu Y tế Công cộng, Đại học Otago.
Theo rnz.co.nz - Hani Dang


