// //]]> Vắc xin HPV giúp ngừa ung thư, vì sao nhiều phụ huynh vẫn từ chối?

Breaking

Vắc xin HPV giúp ngừa ung thư, vì sao nhiều phụ huynh vẫn từ chối?

Vắc xin HPV giúp ngừa ung thư, vì sao nhiều phụ huynh vẫn từ chối?

Đã 18 năm kể từ khi một loại vắc xin có khả năng phòng ngừa ung thư được triển khai tại các trường học ở New Zealand. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm chủng vẫn chững lại do những quan niệm sai lầm tai hại về hoạt động tình dục và việc một số trường từ chối tổ chức tiêm, theo bài viết của Eva de Jong.

Vắc xin HPV được đưa vào sử dụng từ tháng 9 năm 2008
Vắc xin HPV được đưa vào sử dụng từ tháng 9 năm 2008.

Dù có tác dụng phòng ngừa ung thư, vắc xin HPV vẫn chưa đạt được tỷ lệ bao phủ cao tại New Zealand. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế cho rằng vẫn có cơ hội đảo ngược tình hình này.

Trong suốt 18 năm qua, vắc xin HPV đã vấp phải sự phản đối, với một số trường lựa chọn không tham gia do những thông tin sai lệch tai hại về loại vắc xin này được lan truyền.

Hiện nay, tỷ lệ bao phủ vắc xin HPV ở thanh thiếu niên 15 tuổi trên toàn New Zealand vào khoảng 60%, thấp hơn mục tiêu quốc gia 75% của Cơ quan Y tế New Zealand và mục tiêu 90% của Tổ chức Y tế Thế giới.

Ở bên kia biển Tasman, Australia đang trên đà trở thành quốc gia đầu tiên loại trừ ung thư cổ tử cung vào năm 2035. New Zealand đang chậm hơn, với mục tiêu loại trừ căn bệnh này vào năm 2040.

Có 252 trường học chưa triển khai tiêm vắc xin HPV cho học sinh trong năm nay.

Thông tin chính thức mà Weekend Herald thu thập từ Cơ quan Y tế New Zealand cho thấy, tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2026, đã có ít nhất một mũi vắc xin HPV được tiêm tại 1.227 trong tổng số 1.479 trường đăng ký tham gia chương trình tiêm chủng.

Cơ quan Y tế New Zealand cho biết con số này có thể tăng trong những tháng còn lại của năm khi chương trình tiêm chủng học đường tiếp tục được triển khai. Một số trường cũng có thể đã tổ chức tiêm nhưng dữ liệu chưa được nhập vào Hệ thống Đăng ký Tiêm chủng Aotearoa.

Nikki Turner, cố vấn y khoa chính của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng, cho rằng việc 252 trường tại New Zealand chưa cung cấp cho học sinh một loại vắc xin có lợi ích lớn như vậy là điều “rất đáng buồn”.

“Tôi cho rằng cần khẩn trương trao đổi với hội đồng quản trị của các trường này để tìm hiểu sâu hơn những lo ngại đó bắt nguồn từ đâu và có bao nhiêu lo ngại xuất phát từ việc hiểu sai cơ sở khoa học của loại vắc xin này,” Turner nói.

“Điều này đồng nghĩa với việc nhiều người trẻ sẽ phải đối mặt với nguy cơ cao hơn mắc những căn bệnh ung thư khủng khiếp này khi trưởng thành. Đó là thực tế rất đáng lo ngại.”

Nikki Turner, cố vấn y khoa chính của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng, cho rằng cần khẩn trương trao đổi với hội đồng quản trị các trường học
Nikki Turner, cố vấn y khoa chính của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng, cho rằng cần khẩn trương trao đổi với hội đồng quản trị các trường học. Ảnh: Mark Mitchell.

Alana Ewe Snow, giám đốc quốc gia phụ trách phòng ngừa và sàng lọc của Cơ quan Y tế New Zealand, cho biết một chiến dịch hướng đến các nhóm cụ thể đang được xây dựng nhằm giúp người dân hiểu rõ ai đủ điều kiện tiêm, đồng thời khuyến khích những người trẻ đủ điều kiện nhưng đã bỏ lỡ tiêm chủng tại trường đi tiêm bù.

“Chúng tôi cũng đang điều chỉnh cách truyền thông để nhấn mạnh rõ hơn rằng tiêm vắc xin HPV là biện pháp phòng ngừa ung thư cho người trẻ, thay vì chủ yếu giới thiệu đây là một loại vắc xin dành cho nữ giới,” Ewe Snow nói.

Mamaeroa David, cố vấn y khoa cấp cao phụ trách người Māori của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng, đồng thời là bác sĩ đa khoa tại Onehunga, cho biết một số người trẻ đã tìm đến phòng khám của bà sau khi đủ 18 tuổi để xin tiêm vắc xin HPV.

Mamaeroa David, cố vấn y khoa cấp cao phụ trách người Māori của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng
Mamaeroa David, cố vấn y khoa cấp cao phụ trách người Māori của Trung tâm Tư vấn Tiêm chủng. Ảnh: Cameron Pitney.

“Cha mẹ không cho các em tiêm, nhưng bản thân các em rất muốn được tiêm,” bà nói.

“Nếu có những phụ nữ trước đây không được cho phép tiêm vắc xin HPV và giờ đây mắc ung thư cổ tử cung, thì thật khủng khiếp. Phải trả giá như vậy mới nhận ra bài học này là điều quá đau lòng.

“Trong một số nhóm cộng đồng, chẳng hạn cộng đồng người gốc các đảo Thái Bình Dương và những nhóm có niềm tin tôn giáo sâu sắc, vẫn tồn tại quan niệm ăn sâu rằng phụ nữ chỉ quan hệ tình dục với chồng. Điều này có thể ảnh hưởng đến cách họ hiểu về vắc xin.

“Vấn đề không nằm ở việc có nhiều bạn tình, bởi dù chỉ có một bạn tình, bạn vẫn có thể nhiễm virus.”

Quá trình triển khai vắc xin tại New Zealand là một hành trình đầy khó khăn trong việc giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của tiêm chủng.

Phó giáo sư, bác sĩ Peter Sykes, làm việc tại Bộ môn Sản phụ khoa của Đại học Otago, đã tham gia một nghiên cứu gần đây do nhóm nghiên cứu tại Christchurch chủ trì, xác nhận vắc xin HPV có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ mắc ung thư.

“Được tiêm càng sớm khi còn trẻ, mức độ bảo vệ càng cao,” Sykes nói.

Ông đã làm việc trong lĩnh vực này suốt nhiều thập niên và nhớ rằng khi vắc xin mới xuất hiện, phải mất một thời gian dài công chúng mới hiểu được những lợi ích của nó.

“Tôi cảm thấy vắc xin được triển khai khá nhanh, trong khi nhìn chung người dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nó,” Sykes nói.

“Với nhiều người, họ đột ngột phải đối mặt với việc quyết định tiêm chủng cùng tất cả những lo lắng đi kèm.”

Vắc xin HPV lần đầu được đưa vào sử dụng vào tháng 9 năm 2008. Cả trẻ trai và trẻ gái đều được tiêm vì vắc xin giúp phòng ngừa ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, dương vật, hậu môn và vùng hầu họng, cũng như mụn cóc sinh dục.

Một số phụ huynh và trường học lo ngại trước những thông tin sai lệch cho rằng trẻ gái bị rụng tóc, co giật hoặc ngất xỉu do tiêm vắc xin.

Những phụ huynh khác và một số trường tôn giáo hiểu sai về lý do cần tiêm vắc xin từ năm 9 tuổi. Họ cho rằng việc này khuyến khích trẻ gái quan hệ tình dục và nghĩ rằng chỉ những người có nhiều bạn tình mới nhiễm HPV.

Bác sĩ chuyên khoa sản phụ khoa Jess Dunning làm việc tại Bệnh viện Thành phố Auckland, đồng thời khám tư tại Auckland Gynaecology Group.

Bà cho biết một phần sự phản đối bắt nguồn từ việc HPV lây qua tiếp xúc tình dục, khiến phụ huynh cảm thấy tiêm vắc xin có thể đồng nghĩa với việc “cho phép con gái nhỏ của mình quan hệ tình dục”.

Tuy nhiên, Dunning giải thích rằng vắc xin được tiêm khi trẻ còn nhỏ vì ở độ tuổi này cơ thể tạo ra đáp ứng miễn dịch mạnh hơn, đồng thời cần tiêm trước khi một người bắt đầu có hoạt động tình dục và có nguy cơ tiếp xúc với HPV.

Nhiễm HPV rất phổ biến. Ước tính khoảng 70% đến 80% người có hoạt động tình dục sẽ nhiễm virus vào một thời điểm nào đó trong đời, ngay cả khi họ chỉ có duy nhất một bạn tình.

Dunning cho biết tâm lý do dự trước tiêm chủng đã trở nên nghiêm trọng hơn. Hiện nay, nhiều nguồn tin và người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội đưa ra thông tin sai lệch nhưng diễn đạt theo cách có vẻ đáng tin.

“Chúng ta chưa cung cấp thông tin đầy đủ, đúng cách cho các gia đình để họ có thể đưa ra quyết định dựa trên những hiểu biết chính xác,” Dunning nói.

“Đây là một loại vắc xin có thể phòng ngừa ung thư, một điều thực sự tuyệt vời, và chúng ta cần nỗ lực hơn nữa.”

Những thay đổi được áp dụng trong năm nay có nghĩa là trẻ sẽ chỉ nhận một liều vắc xin HPV thông qua chương trình tiêm chủng học đường, thay vì hai liều như trước đây.

Vắc xin cũng được cung cấp miễn phí tại nhà thuốc hoặc phòng khám bác sĩ đa khoa cho người chưa đủ 27 tuổi, và những người có nhu cầu vẫn có thể nhận liều thứ hai qua các cơ sở này.

Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng gặp khó khăn trong việc xóa bỏ những quan niệm sai lầm về vắc xin HPV.

Tại Mỹ, tỷ lệ tiêm chủng đã giảm trong bối cảnh thông điệp về y tế công cộng thay đổi và Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Robert F. Kennedy Jr. liên tục đưa ra những tuyên bố sai lệch liên hệ việc tiêm chủng ở trẻ em với chứng tự kỷ.

Bộ trưởng Y tế trong chính quyền Trump, Robert F. Kennedy Jr., đã siết chặt hoạt động phát triển vắc xin.
Bộ trưởng Y tế trong chính quyền Trump, Robert F. Kennedy Jr., đã siết chặt hoạt động phát triển vắc xin. Ảnh: Getty Images.

Dunning cho biết các nghiên cứu ở nước ngoài về nguyên nhân tỷ lệ tiêm chủng thấp đã chỉ ra những yếu tố như thiếu kiến thức y khoa, nhận thức và niềm tin chưa rõ ràng, cùng vấn đề ai là người quyết định tiêm chủng: người chăm sóc chính hay chính thanh thiếu niên.

“Ai có quyền quyết định các em có được tiêm vắc xin hay không? Đó nên là cha mẹ hay chính các em? Đây là một câu hỏi đáng suy ngẫm về quyền tự quyết ở tuổi 12.”

Vào tháng 9, Chính phủ công bố Kế hoạch Loại trừ Ung thư Cổ tử cung giai đoạn 2026 đến 2040 và thông báo sẽ miễn phí sàng lọc ung thư cổ tử cung từ tháng 3 năm sau.

Sykes cho rằng cải thiện quy trình vận hành của chương trình học đường và truyền đạt thông điệp về vắc xin một cách đơn giản, dễ hiểu là cách để nâng tỷ lệ tiêm HPV.

Ông nói đôi khi chỉ một tờ phiếu đồng ý tiêm bị bỏ quên trong cặp sách, hoặc việc chưa trao đổi được với phụ huynh, cũng có thể khiến một học sinh bỏ lỡ tiêm chủng.

Dunning cho biết sự thuận tiện và các khâu tổ chức luôn ảnh hưởng đến việc một đứa trẻ có được tiêm vắc xin hay không.

Ewe Snow nói Cơ quan Y tế New Zealand đang hỗ trợ các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu xác định và mời những người đủ điều kiện nhưng bỏ lỡ tiêm chủng quay lại tiêm.

Cơ quan này đặt mục tiêu củng cố hoạt động tiêm chủng học đường, tăng khả năng tiếp cận qua các nhà thuốc và đơn vị cung cấp dịch vụ y tế cộng đồng, đồng thời sử dụng dữ liệu để tập trung theo dõi, nhắc tiêm tại những nơi có tỷ lệ bao phủ thấp nhất.

“Chúng tôi biết vẫn còn nhiều việc phải làm để loại trừ ung thư cổ tử cung và thực hiện những khuyến nghị được đưa ra từ cuộc rà soát Hệ thống Đăng ký Sàng lọc Cổ tử cung,” bà nói.

Weekend Herald đã đề nghị Cơ quan Y tế New Zealand cung cấp số trường tham gia chương trình đã tổ chức tiêm vắc xin HPV cho học sinh trong 5 năm qua, nhưng cơ quan này cho biết không lưu giữ dữ liệu lịch sử cho những năm được yêu cầu.

Một đợt tổng rà soát toàn quốc năm 2024 ghi nhận 1.418 trường tham gia chương trình tiêm chủng, trong đó 1.403 trường cung cấp vắc xin HPV cho học sinh.

Rachael Neumann, trưởng bộ phận vận động chính sách và quan hệ công chúng của Hiệp hội Ung thư, đã có hơn 20 năm làm việc trong lĩnh vực y tế công cộng và phòng ngừa bệnh mạn tính, đảm nhiệm các vị trí trong cơ quan nhà nước và tổ chức phi lợi nhuận tại Australia và New Zealand.

Neumann cho biết Australia đã đi trước New Zealand rất xa về đầu tư cho các dịch vụ ung thư và từ lâu đã có chiến lược rõ ràng nhằm loại trừ ung thư cổ tử cung.

Bà cho rằng New Zealand cần cải thiện quy trình lấy ý kiến đồng ý tiêm trong chương trình học đường, đồng thời giúp người dân hiểu lợi ích của việc tiêm trước khi tiếp xúc với HPV.

“Chúng ta cần chuyển trọng tâm truyền thông từ hoạt động tình dục hay phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục sang phòng ngừa ung thư,” Neumann nói.

“Bạn có thể có một kế hoạch tốt, nhưng phải có kinh phí và sự cam kết từ các chính trị gia cũng như ngành y tế thì mới có thể đạt được kết quả.”

Việc bảo đảm tiếp cận tiêm chủng công bằng vẫn là một vấn đề đối với các gia đình Māori, người gốc các đảo Thái Bình Dương và người dân sống ở vùng nông thôn. Những nhóm này liên tục có tỷ lệ tiêm thấp hơn người New Zealand gốc châu Âu và cư dân thành thị.

Những ảnh hưởng dai dẳng của đại dịch COVID đối với niềm tin vào tiêm chủng cũng đang tác động đến tình hình, cùng với cảm giác thiếu quyền tự quyết của một số nhóm khi các quy định tiêm chủng bắt buộc được thực thi.

“Trước đây, chúng ta đã chứng minh có thể triển khai tiêm chủng công bằng, nhưng thành quả đó đã suy giảm trong đại dịch COVID và tại những nơi như Northland. Điều này thực sự cần được khắc phục,” Sykes nói.

Turner cho biết các chương trình tiêm chủng học đường thường giúp thu hẹp chênh lệch trong tiếp cận tiêm chủng, nhưng tỷ lệ học sinh nghỉ học cao trong đại dịch COVID đã gây gián đoạn đáng kể.

Bà nói cần tập trung bảo đảm nguồn lực đầy đủ và sử dụng hiệu quả cho chương trình tiêm chủng học đường để đạt được độ bao phủ công bằng.

New Zealand từng có một chương đen tối trong lịch sử bảo vệ phụ nữ trước ung thư cổ tử cung.

Một nghiên cứu do bác sĩ Herbert Green thực hiện tại Bệnh viện Phụ nữ Quốc gia ở Auckland, bắt đầu năm 1966, bị gọi là “Thí nghiệm bất hạnh” vì những phụ nữ tham gia có kết quả phết tế bào cổ tử cung bất thường đã không được điều trị.

Thí nghiệm này dẫn đến việc Chính phủ tiến hành cuộc điều tra Cartwright về quyền của bệnh nhân, từ đó thúc đẩy những cải cách quan trọng.

Gần đây, một cuộc rà soát quy mô lớn phát hiện gần một triệu thông báo sàng lọc ung thư cổ tử cung đã bị bỏ sót hoặc không được gửi đi từ hệ thống đăng ký quốc gia của Cơ quan Y tế New Zealand.

Sykes là thành viên hội đồng chuyên gia thực hiện cuộc rà soát. Ông cho biết vẫn lo ngại rằng việc gửi thông báo mời xét nghiệm tế bào cổ tử cung cho những người bước sang tuổi 25 chưa được thực hiện hiệu quả.

Bác sĩ Mamaeroa David cho rằng New Zealand có cơ hội ngăn phụ nữ mắc một “căn bệnh ung thư khủng khiếp
Bác sĩ Mamaeroa David cho rằng New Zealand có cơ hội ngăn phụ nữ mắc một “căn bệnh ung thư khủng khiếp”. Ảnh: Cameron Pitney.

David nói việc chuyển sang lịch tiêm một liều là bước quan trọng giúp đơn giản hóa quá trình triển khai chương trình học đường, bởi việc xin chấp thuận cho trẻ tiêm một mũi sẽ dễ tổ chức hơn.

Turner cho biết bà rất trăn trở khi nghĩ đến thực tế chỉ khoảng 60% người trẻ được tiêm, bởi những trẻ bỏ lỡ cơ hội này có thể phải gánh chịu hậu quả sau 20 năm nữa.

“Cá nhân tôi cho rằng đó là một bi kịch.”

Tuy nhiên, Turner cũng tin rằng vẫn có nhiều hy vọng và nếu New Zealand tập trung nỗ lực, mục tiêu loại trừ ung thư cổ tử cung hoàn toàn nằm trong tầm tay.

Bà cho biết nguồn lực y tế đang “rất eo hẹp”. Dù các điều dưỡng y tế công cộng đã nỗ lực, những hạn chế trong lĩnh vực y tế công cộng vẫn ảnh hưởng đến tỷ lệ bao phủ tiêm chủng.

Nhiều khi, điều dưỡng không có đủ thời gian để thường xuyên trao đổi với các cộng đồng, giải tỏa những hiểu lầm và nỗi lo của người dân về vắc xin HPV.

“Những quan niệm sai lầm dần ăn sâu, rồi việc xóa bỏ chúng trở nên rất khó khăn.”

Turner chỉ ra rằng những sự việc nhỏ cũng có thể tạo ra tác động lan rộng. Chẳng hạn, một học sinh từng bị ngất sau khi tiêm vắc xin HPV, và câu chuyện đó đã lan truyền qua rất nhiều trường.

“Xét ở một góc độ, vấn đề này không liên quan đến chuyện quan hệ tình dục. Đây không phải một căn bệnh tình dục hiếm gặp, đáng sợ. Việc tiếp xúc với HPV là điều rất phổ biến.”

Sykes cho rằng xét cho cùng, việc Chính phủ đầu tư vào chương trình tiêm chủng học đường nên là một quyết định dễ dàng, bởi chi phí mà hệ thống y tế công phải bỏ ra để điều trị ung thư cho một người trưởng thành cao hơn nhiều so với tiêm vắc xin cho một đứa trẻ.

Mỗi năm, khoảng 175 người được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung và 55 người tử vong vì căn bệnh này.

Loại trừ ung thư cổ tử cung không có nghĩa là không còn ca bệnh nào. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, đó là đưa tỷ lệ mắc xuống dưới 4 ca trên 100.000 phụ nữ.

David cho biết bà hy vọng trong tương lai, với vai trò bác sĩ đa khoa, bà sẽ không còn phải chứng kiến những đau đớn mà phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung phải trải qua.

“Tôi nghĩ khả năng chúng ta loại trừ được ung thư cổ tử cung thực sự rất cao. Mà đây lại là một căn bệnh ung thư, nên làm được điều đó sẽ là một thành tựu vô cùng phi thường,” bà nói.

Theo nzherald.co.nz premium - Hani Dang

░ Loading...

░ Loading...

Du lịch

Rao vặt New Zealand

Thông tin Rao Vặt Người Việt tại New Zealand.

Tạo tài khoản ngay