Hơn 20 trường học tại New Zealand ghi nhận nguồn nước uống có nồng độ nitrate cao vượt ngưỡng một nửa giới hạn cho phép theo quy định pháp luật. Đây là chất hóa học có liên quan đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe con người.
Hơn 20 trường học ghi nhận nguồn nước uống có nồng độ nitrate vượt ngưỡng một nửa giới hạn cho phép theo quy định. Nguồn ảnh: 123RFMột nghiên cứu tại New Zealand cho thấy nguy cơ sinh non tăng lên ngay cả khi nồng độ nitrate thấp hơn nhiều so với quy định. Hội Sinh sản & Nữ hộ sinh New Zealand khuyến cáo phụ nữ mang thai nên tránh dùng nước có hàm lượng nitrate trên 5 mg/L. Trong khi đó, các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra mối liên hệ giữa ung thư đại trực tràng với nồng độ nitrate chỉ từ 1 mg/L.
Phần lớn trong số 21 trường học này nằm ở vùng Canterbury và Waikato.
Những năm gần đây, có 5 trường học đã vi phạm giới hạn pháp lý về nồng độ nitrate (11,3 mg/L) — bao gồm Trường Five Forks ở Bắc Otago, cơ sở nông thôn Laghmor của Trường Ashburton Borough, Te Kowhai, Harrisville và Te Wharekura o Te Rau Aroha ở Waikato. Đáng chú ý, có 2 trường ghi nhận mức nitrate vượt mốc 17 mg/L.
Hiện tại, việc nâng cấp hệ thống cấp nước tại 3 trường học đã hoàn tất, và công tác cải tạo đang được triển khai tại cơ sở Laghmor của trường Ashburton.
Bộ Giáo dục New Zealand cho biết cơ quan này không giữ thông tin về quá trình nâng cấp tại Trường Harrisville hay Te Wharekura o Te Rau Aroha do hai dự án này do các trường tự quản lý và chi trả kinh phí.
Cũng theo Bộ Giáo dục, chi phí nâng cấp hệ thống nước tại Trường Five Forks là 47.900 NZD và tại Trường Te Kowhai là 36.000 NZD.
Nghị sĩ Đảng Xanh, bà Lan Pham, khẳng định việc nhà trường, người dân địa phương và người nộp thuế phải tự gánh chịu các chi phí này là điều không thể chấp nhận.
"Số liệu này cho thấy đây không chỉ là vấn đề riêng của Canterbury. Chúng ta ghi nhận các trường học ở Bay of Plenty, Waikato, Hawke's Bay, Manawatu, Otago cũng gặp tình trạng tương tự. Đây đang trở thành một thách thức mang tính quốc gia tại New Zealand," bà Pham nhấn mạnh.
Bà Pham cho rằng các nhà chính trị cần xem xét cơ chế thu phí hoặc áp dụng chính sách "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Bà dẫn chứng việc Hội đồng Quận Ashburton đã phải chi hàng triệu đô la để xử lý tình trạng nitrate gia tăng tại Tinwald, Hội đồng Quận Selwyn đã duyệt ngân sách 5 triệu NZD để tìm kiếm nguồn nước có hàm lượng nitrate thấp hơn, và ước tính cần tới 400 triệu NZD cho một giải pháp dài hạn.
"Tôi tin rằng việc có thể tin tưởng vào chất lượng nguồn nước chảy ra từ vòi là nhu cầu căn bản của mọi người, đặc biệt là đối với trẻ em tại môi trường học đường," bà nói.
Bộ Giáo dục New Zealand từ chối xác nhận số lượng trường học mà cơ quan này đang phối hợp trên toàn quốc để xử lý các nguồn nước có nồng độ nitrate tuy chưa vượt ngưỡng pháp lý nhưng đã ở mức cao.
Người phát ngôn của Bộ cho biết đơn vị không có dữ liệu về kết quả kiểm tra nước uống tại các trường có nồng độ nitrate vượt quá một nửa Giá trị Tối đa Cho phép (MAV) và "chưa thể cung cấp con số thống kê chính xác trên toàn quốc vào thời điểm này".
Tuy nhiên, trong văn bản trả lời chất vấn của Đảng Xanh vào tháng 9, Bộ trưởng Giáo dục Erica Stanford xác nhận có 21 trường học được ghi nhận có nồng độ nitrate từ 5,65 mg/L trở lên:
• Canterbury: Trường Ashburton Borough (cơ sở Laghmor), Trường Carew Peel Forest, Trường Longbeach, Trường Weedons
• Waikato: Trường Harrisville, Trường Kōrakonui, Trường Marotiri, Trường Te Kowhai, Trường Wairere
• Bay of Plenty: Trường Galatea, Trường Lake Rerewhakaaitu, Trường Pukehina
• Southland: Trường Riversdale, Trường Waianiwa
• Hawke's Bay: Trường Pukehāmoamoa, Trường Puketapu
• Các khu vực khác: Trường Koputaroa (Horowhenua), Trường Macraes Moonlight (Waitaki), Trường Tasman (Tasman), Trường Turakina (Taranaki), Trường Wainuioru (Wairarapa)
Bộ trưởng Stanford cũng cho biết bà chưa nhận được bất kỳ báo cáo hay tư vấn nào liên quan đến các trường học đã nâng cấp hệ thống cấp nước do ô nhiễm nitrate.
Các chuyên gia chỉ trích giới hạn nitrate pháp lý hiện tại là 11,3 mg/L — vốn dựa trên hướng dẫn từ năm 1958 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) — là quá cao và không còn phù hợp để bảo vệ sức khỏe con người cũng như hệ sinh thái sông hồ.
Nhiều bằng chứng khoa học chỉ ra rằng nồng độ nitrate thấp hơn nhiều cũng làm tăng nguy cơ sinh non cùng các rủi ro sức khỏe sinh sản khác. Hội Sinh sản & Nữ hộ sinh New Zealand khuyên phụ nữ mang thai nên tìm nguồn nước thay thế nếu hàm lượng nitrate vượt quá 5 mg/L.
Vào tháng 6, báo chí tiết lộ Bộ Y tế New Zealand đã âm thầm khởi động một cuộc đánh giá về tác động của nitrate trong nước uống đối với sức khỏe, sau khi chính phủ Đan Mạch quyết định cắt giảm gần 90% giới hạn nitrate trong nước sinh hoạt.
Giáo sư thỉnh giảng Karyne Rogers từ Đại học Lincoln, đồng tác giả khảo sát toàn quốc đầu tiên về nước uống tại các trường học nông thôn (được Bộ Giáo dục và Bộ Môi trường tài trợ công bố năm 2024), cho biết: Khảo sát trên 245 trường học nông thôn cho thấy hơn 1/4 số trường có nguồn nước vượt quá ít nhất một tiêu chuẩn nước uống an toàn.
"Chúng tôi ghi nhận vi khuẩn E. coli xuất hiện tại hơn 20 trường học, cùng với các kim loại nặng như asen và chì — những chất đặc biệt nguy hiểm đối với sự phát triển của trẻ nhỏ," bà Rogers chia sẻ.
Ngay cả những kết quả chưa vi phạm giới hạn pháp lý cũng rất đáng lo ngại. "Các nghiên cứu từ Châu Âu ngày càng khuyến nghị nên hạ mức Giá trị Tối đa Cho phép (MAV) thấp hơn 10 lần so với hiện tại," bà cho biết thêm.
Bà Rogers cũng là đồng tác giả nghiên cứu năm 2025 của GNS Science trên 3.800 nguồn cấp nước nông thôn. Kết quả cho thấy 5% nguồn nước vượt ngưỡng cho phép và 31% vượt quá một nửa giới hạn. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích đồng vị để truy xuất nguồn gốc ô nhiễm nitrate và xác định chất thải từ ngành chăn nuôi bò sữa là nguyên nhân chính.
Bà mong muốn các hội đồng địa phương ứng dụng công cụ này để điều tra nguồn gây ô nhiễm: "Phân tích đồng vị nitrate là một trong số ít công cụ có thể cung cấp bằng chứng kết luận chính xác nguồn phát thải, dù đó là hóa chất tổng hợp, chất thải động vật hay chất thải sinh hoạt."
Ông Andrew King, Chủ tịch Hiệp hội Lãnh đạo Trường học Nông thôn New Zealand, ghi nhận những bước tiến tích cực nhằm giảm bớt gánh nặng cho các trường tự cung cấp nước uống.
"Điều quan trọng nhất là đảm bảo càng nhiều trường được cải tạo hệ thống nước càng nhanh càng tốt, đồng thời hỗ trợ nhà trường khi xảy ra sự cố," ông King nói. "Hiện tại, trách nhiệm gửi mẫu nước đến phòng thí nghiệm hằng tháng vẫn thuộc về nhân sự nhà trường. Dù đã có bộ công cụ tự kiểm tra mới được tài trợ chi phí giúp quy trình đơn giản hơn, nhưng đây vẫn là gánh nặng đối với các trường nông thôn thiếu nhân lực chuyên trách."
Ông Gus Gilmore, Giám đốc Điều hành Cơ quan Cơ sở Vật chất Trường học mới, cho biết 98 trường học và cơ sở giáo dục dòng Kura sẽ được nâng cấp toàn bộ hệ thống nước trong năm tài chính này thuộc chương trình "Nước uống tại Trường học" trị giá 30 triệu NZD. Chi phí nâng cấp biến động tùy thuộc vào yêu cầu xử lý, hạ tầng hiện có và quy mô trường.
Trong khi đó, Bộ trưởng Môi trường Nicola Grigg khẳng định các đơn vị cung cấp nước uống (trong trường hợp này là các trường học) chịu trách nhiệm kiểm tra và đảm bảo chất lượng nước đạt chuẩn. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý việc sử dụng đất để bảo vệ nguồn nước. Bộ trưởng cho biết chính phủ đang xây dựng hệ thống quy hoạch mới nhằm đưa ra các giới hạn bảo vệ sức khỏe con người và bảo tồn nguồn nước tốt hơn.
Theo rnz.co.nz – Lani Hoang



